Việt Nam dự kiến bỏ mô hình đào tạo bác sĩ chuyên khoa 1, 2
Từ 2027, Việt Nam dự kiến không còn mô hình đào tạo bác sĩ chuyên khoa 1, 2, mà thay bằng chuyên khoa và chuyên khoa sâu, thời gian đào tạo tối thiểu 10 năm.

Từ 2027, Việt Nam dự kiến không còn mô hình đào tạo bác sĩ chuyên khoa 1, 2, mà thay bằng chuyên khoa và chuyên khoa sâu, thời gian đào tạo tối thiểu 10 năm.
Tại hội thảo tổ chức ngày 9/10 ở Đại học Y Hà Nội, ông Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế, cho biết Bộ đang hoàn thiện dự thảo Thông tư hướng dẫn đào tạo sau đại học trong lĩnh vực sức khỏe , dự kiến triển khai từ năm 2027.
Theo đó, định hướng mới của Bộ Y tế tập trung thiết kế chương trình đào tạo bác sĩ chuyên khoa dựa trên chuẩn năng lực chuyên môn cần thiết để hành nghề. Phương pháp này khác biệt với cách tiếp cận cũ, vốn chủ yếu xuất phát từ yêu cầu phân công công việc.
Hiện, việc phân chia bác sĩ thành hai cấp độ chuyên khoa 1, 2 chưa thực sự phù hợp với phạm vi hành nghề cũng như mức độ chuyên sâu của từng chuyên ngành.
Trước đây, sau khi tốt nghiệp đại học y và có giấy phép hành nghề, bác sĩ có thể học tiếp chương trình chuyên khoa 1 (thường 2 năm) để chuyên sâu trong một lĩnh vực cụ thể như tim mạch, thần kinh, nhi khoa. Sau đó, họ có thể học chuyên khoa 2 (thường thêm 2 năm) để đảm nhiệm công việc chuyên môn sâu hơn, tham gia quản lý hoặc đào tạo.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải chuyên ngành nào cũng phát triển đến cấp độ chuyên khoa sâu. Việc cứng nhắc áp dụng hai cấp độ này khiến việc đánh giá năng lực bác sĩ trở nên phức tạp, đồng thời không phản ánh đúng sự khác biệt về yêu cầu chuyên môn giữa các lĩnh vực.

Ví dụ, trong da liễu, một bác sĩ chuyên khoa 1 đã khám và điều trị được nhiều bệnh da liễu phổ biến, thậm chí làm được một số thủ thuật thẩm mỹ cơ bản. Mặc dù bác sĩ chuyên khoa 2 có thể xử lý các bệnh khó hơn, nhưng đôi khi ranh giới công việc giữa hai cấp độ này không quá khác biệt.
Trong khi ở lĩnh vực phẫu thuật thần kinh, bác sĩ chuyên khoa 1 có thể đã nắm được các nguyên tắc cơ bản và thực hiện được một số ca phẫu thuật đơn giản. Tuy nhiên, để thành chuyên gia và thực hiện các ca phẫu thuật thần kinh phức tạp, họ cần một quá trình đào tạo và thực hành rất lâu dài, vượt xa khuôn khổ 2 năm của chuyên khoa 1, thậm chí chuyên khoa 2. Nhu cầu "chuyên khoa sâu" về phẫu thuật cột sống hay phẫu thuật sọ não chức năng là rất rõ ràng.
Nhiều quốc gia không tổ chức đào tạo chuyên khoa theo hai loại văn bằng như trên. Thay vào đó, họ thiết kế chương trình theo từng giai đoạn, từ chuyên khoa cơ bản đến chuyên khoa sâu. Sau khi hoàn thành, người học nhận một văn bằng bác sĩ chuyên khoa tương ứng với chuyên ngành đã học.
Mô hình đào tạo mới ra sao?
Bộ Y tế đề xuất chuyển từ mô hình đào tạo hai cấp độ chuyên khoa 1, 2 sang chương trình đào tạo chuyên khoa có thời gian linh hoạt, phù hợp đặc thù từng chuyên ngành. Ông Quang nhấn mạnh điểm thay đổi lớn nhất là chương trình đào tạo chuyên khoa phải xác định rõ những năng lực cụ thể mà bác sĩ cần đạt được sau khi tốt nghiệp. Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo nhằm giúp người học đáp ứng các yêu cầu trên.

Theo định hướng này, sau khi tốt nghiệp đại học y (6 năm) và một năm thực hành để có giấy phép hành nghề, bác sĩ có thể tham gia các chương trình đào tạo chuyên khoa cơ bản như nội, ngoại, sản, nhi, da liễu... Thời gian đào tạo 3 năm. Bác sĩ hoàn thành chương trình này đáp ứng yêu cầu làm việc tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.
Sau khi hoàn thành chuyên khoa cơ bản, bác sĩ có thể tiếp tục học chuyên khoa sâu nếu công việc đòi hỏi năng lực chuyên môn cao hơn. Ví dụ, bác sĩ ngoại khoa có thể học sâu hơn về phẫu thuật tim mạch, tiêu hóa hoặc chấn thương chỉnh hình...
Như vậy, năng lực chuyên môn của bác sĩ sẽ phát triển theo từng cấp độ, gắn với phạm vi công việc. Thời gian đào tạo cũng gắn với yêu cầu năng lực của vị trí chuyên môn. Với lộ trình phổ biến gồm 6 năm học đại học, một năm thực hành để được cấp giấy phép hành nghề và ít nhất 3 năm đào tạo chuyên khoa, tổng thời gian để trở thành bác sĩ chuyên khoa có thể khoảng 10 năm. Những người tiếp tục đào tạo chuyên khoa sâu cần thêm thời gian.
Dự thảo thông tư mới kỳ vọng tạo ra một hệ thống đào tạo bác sĩ sau đại học chặt chẽ, hiệu quả, đảm bảo chất lượng nhân lực y tế đáp ứng tốt nhất nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.
Bên cạnh đó, việc hội nhập quốc tế được thúc đẩy khi mô hình mới giúp hệ thống đào tạo y khoa Việt Nam tiệm cận các mô hình phổ biến trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi chuyên môn, công nhận văn bằng quốc tế.
"Cuối cùng, việc đánh giá trình độ bác sĩ sẽ rõ ràng, minh bạch hơn cho người bệnh, dựa trên chuyên ngành, quá trình đào tạo, kinh nghiệm thực tế và phạm vi hành nghề", đại diện Bộ cho hay, thêm rằng nếu được thông qua và triển khai theo kế hoạch, thông tư mới sẽ tạo ra thay đổi đáng kể trong hệ thống đào tạo sau đại học ngành sức khỏe, từ tên gọi văn bằng, thời gian học đến tiêu chuẩn đầu ra.




