Bỏ qua menu, đến nội dung chính
Tin nóng

Petra: thành phố giữa sa mạc sống nhờ đập chặn lũ, bể chứa và ống nước đất nung

Công nghệ6 tháng 11, 20260 lượt xem

Petra nổi tiếng với những mặt tiền đền đài tạc thẳng vào vách núi sa thạch màu hồng ở miền nam Jordan. Nhưng điều khiến một thành phố có thể tồn tại giữa vùng đất khô cằn này nằm ở chỗ ít ai để ý: hệ thống đập, kênh, ống dẫn và bể chứa mà người Nabataea dùng để giữ từng giọt nước mưa và dẫn nước suối từ xa về. UNESCO gọi đó là một hệ thống quản lý nước tài tình, thứ đã cho phép con người định cư đông đúc ở một vùng về cơ bản là khô hạn.

Petra: thành phố giữa sa mạc sống nhờ đập chặn lũ, bể chứa và ống nước đất nung

Petra nổi tiếng với những mặt tiền đền đài tạc thẳng vào vách núi sa thạch màu hồng ở miền nam Jordan. Nhưng điều khiến một thành phố có thể tồn tại giữa vùng đất khô cằn này nằm ở chỗ ít ai để ý: hệ thống đập, kênh, ống dẫn và bể chứa mà người Nabataea dùng để giữ từng giọt nước mưa và dẫn nước suối từ xa về. UNESCO gọi đó là một hệ thống quản lý nước tài tình, thứ đã cho phép con người định cư đông đúc ở một vùng về cơ bản là khô hạn.

Dân du mục giấu nước dưới lòng đất

Theo Wikipedia, người Nabataea là một bộ tộc Ả Rập du mục đến vùng Petra vào thế kỷ 4 TCN. Tới thế kỷ 2 TCN, Petra trở thành kinh đô của vương quốc Nabataea, nằm trên các tuyến buôn hương liệu nối Ả Rập với Ai Cập và vùng Syria. Vào thế kỷ 1, dân số thành phố ước tính lên tới khoảng 20.000 người.

Khí hậu Petra là bán khô hạn, mỗi năm chỉ có khoảng 193 mm mưa, chủ yếu rơi vào mùa đông. Nhà sử học Hy Lạp Diodorus Siculus đã ghi lại rằng người Nabataea đào những bể chứa nước mưa hình chai trong nền đá hoặc đất sét, rồi ngụy trang kỹ để kẻ xâm lược không tìm ra. Theo Diodorus, chính vùng đất khô cằn là tấm khiên che chở tốt nhất cho họ.

Cuối hẻm núi Siq, mặt tiền Al-Khazneh hiện ra giữa hai vách đá sa thạch. Siq là lối vào chính của Petra từ phía đông và cũng là đường dẫn nước vào thành phố

Đập và đường hầm chặn lũ ở cửa Siq

Mưa ở Petra hiếm nhưng khi đổ xuống thì thành lũ quét. Lối vào chính của thành phố là Siq, một hẻm núi hẹp dài khoảng 1,2 km, có đoạn chỉ rộng 3 m, vốn là đường thoát nước tự nhiên của dòng Wadi Musa. Theo nghiên cứu của kỹ sư thủy lực Charles Ortloff đăng trên tạp chí Water năm 2020, vào thế kỷ 1, người Nabataea xây một con đập và một đường hầm ở cửa Siq. Nước lũ của Wadi Musa bị chặn lại và đẩy sang thung lũng Wadi Mataha, thay vì tràn qua Siq cuốn theo bùn cát vào trung tâm thành phố.

Theo Wikipedia, con đập ở cửa Siq đã được dựng lại vào năm 1963 và 1991, khá sát với công trình gốc của người Nabataea. UNESCO nhắc tên đường hầm Muthlim cùng con đập chuyển dòng như những ví dụ nổi bật về kỹ thuật thủy lợi từ những thế kỷ quanh mốc Công nguyên. Tổ chức này cũng lưu ý rằng nếu hệ thống chuyển dòng này không được theo dõi và sửa chữa thường xuyên, Siq vẫn có thể bị lũ quét tràn qua.

Nguồn nước chính của Petra là suối Ain Musa ở phía đông thành phố. Ortloff mô tả rằng lúc đầu, nước được dẫn qua Siq bằng một con kênh hở đào dưới nền hẻm núi, đậy bằng các phiến đá. Vào khoảng thế kỷ 1 TCN và thế kỷ 1, kênh này được thay bằng một đường ống chạy dọc vách bắc của Siq, nối với một tuyến ống dài khoảng 14 km từ suối Ain Musa. Bờ nam của Siq có thêm một kênh hở, nhiều khả năng dùng cho lạc đà và ngựa đi cùng các đoàn buôn.

Một đoạn kênh dẫn nước của người Nabataea chạy sát chân vách Siq, ngay cạnh mặt đường lát đá. Thời hoàng kim, kênh này mang nước từ suối Ain Musa vào trung tâm thành phố

Đường ống được ghép từ hàng nghìn đoạn ống đất nung lồng vào nhau, mỗi đoạn dài khoảng 35 cm, đường kính trong từ 14 tới 23 cm, các mối nối trét vữa chịu nước. Dọc ống trong Siq có bốn bể hở. Theo phân tích của Ortloff, các bể này vừa là chỗ lắng cát bùn và cho người qua đường lấy nước uống, vừa giúp nước trong từng đoạn ống chỉ chảy lưng ống thay vì bị ép đầy. Nhờ vậy áp lực lên mối nối thấp hơn và ống ít rò rỉ hơn.

Bể chứa cho mùa khô và các đoàn lạc đà

Ngoài nước suối, Petra còn hứng nước mưa. Trên các sườn núi quanh thành phố có nhiều đập nhỏ và kênh dẫn nước mưa chảy tràn vào các bể chứa trên mặt đất lẫn dưới lòng đất. Hồ chứa Zurraba trên cao, được nối với suối Ain Musa, có sức chứa khoảng 10.000 m³, đủ dự trữ cho mùa hạn và cho những đoàn lữ hành dừng chân. Ortloff cũng chỉ ra rằng Petra có nhiều tuyến ống lấy nước từ các nguồn khác nhau, để khi một tuyến phải ngừng sửa chữa thì vẫn còn tuyến khác cấp nước.

Miệng một bể chứa nước cổ của người Nabataea khoét vào nền đá sa thạch trong vùng sa mạc gần Petra. Nước mưa chảy tràn trên mặt đá được dẫn vào bể để dùng dần

Năm 106, vương quốc Nabataea bị sáp nhập vào Đế quốc La Mã. Theo Wikipedia, Petra suy giảm dần khi các tuyến buôn chuyển sang đường biển, rồi trận động đất năm 363 phá hủy nhiều công trình và làm tê liệt hệ thống quản lý nước sống còn của thành phố. Petra được công nhận là Di sản Thế giới năm 1985. Đến nay, suối Ain Musa vẫn cấp nước cho thị trấn Wadi Musa ngay cạnh khu di tích.

Nguồn: UNESCO World Heritage Centre: Petra , Charles R. Ortloff, Water (MDPI) 2020: Hydraulic Engineering at 100 BC-AD 300 Nabataean Petra , Wikipedia: Petra , Wikipedia: Siq , Wikipedia: Nabataeans

Chia sẻ:

Bài viết liên quan