Cơ hội tỷ USD từ thiết bị bay và bài toán thương mại hóa
TP HCM- Kinh tế tầm thấp, đặc biệt là UAV, có tiềm năng lớn nhưng cần hoàn thiện pháp lý, tăng công nghệ nội địa, thương mại hóa dự án thử nghiệm, theo các chuyên gia.

TP HCM Kinh tế tầm thấp, đặc biệt là UAV, có tiềm năng lớn nhưng cần hoàn thiện pháp lý, tăng công nghệ nội địa, thương mại hóa dự án thử nghiệm, theo các chuyên gia.
Nhận định được bà Nguyễn Minh Phương, Viện phó Viện phát triển không gian tầm thấp - Hội hàng không vũ trụ Việt Nam, đưa ra tại hội thảo Khai thác tiềm năng kinh tế tầm thấp ngày 27/10, bên lề Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026 (AEF 2026) do UBND TP HCM chủ trì.
Nền kinh tế tầm thấp được hiểu là hoạt động kinh tế diễn ra ở độ cao dưới 1.000 m, có thể mở rộng đến dưới 5.000 m tùy nhu cầu thực tế của từng quốc gia. Các hoạt động này sử dụng công nghệ bay có và không người lái như UAV, thiết bị bay thẳng đứng, cùng hạ tầng, hệ thống quản lý. Các lĩnh vực có thể áp dụng gồm: nông nghiệp, logistics, giám sát môi trường, giao thông, truyền thông và giải trí.

Trích dẫn số liệu, bà Phương cho biết nền kinh tế tầm thấp hiện có quy mô hàng trăm tỷ USD, riêng thị trường dịch vụ UAV toàn cầu ước đạt 128 tỷ USD vào năm 2030, còn ở Việt Nam có thể đạt 10 tỷ USD năm 2035. "Điều đó cho thấy dư địa phát triển đáng kể của lĩnh vực này trong nước", bà Phương nhấn mạnh.
Tuy nhiên, đại diện Hội hàng không vũ trụ Việt Nam cũng cho rằng cơ hội không chỉ nằm ở quy mô thị trường, mà còn ở khả năng chuyển hóa tiềm năng thành giá trị kinh tế và năng lực công nghệ trong nước. Theo bà, Việt Nam đã có nền tảng chính sách quan trọng. Kết luận 99 của Bộ Chính trị xác định không gian tầm thấp là tài nguyên quốc gia, gắn với yêu cầu bảo đảm chủ quyền không phận, dữ liệu, an ninh mạng và bảo vệ biên giới, biển đảo, đô thị lớn. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 vận hành ba khu thử nghiệm bay quốc gia, ít nhất một trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm UAV cấp quốc gia. Đến 2045, kinh tế tầm thấp được kỳ vọng đóng góp 1,5% GDP, với tỷ lệ nội địa hóa trên 85%.
Những mục tiêu này cho thấy kinh tế tầm thấp không chỉ gắn với phương tiện bay, mà còn gồm hạ tầng, dữ liệu, phần mềm và dịch vụ vận hành. Để hiện thực hóa, Việt Nam cần cụ thể hóa định hướng chính sách thành cơ chế thực thi, phối hợp liên ngành, minh bạch hóa quy trình cấp phép và triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát phù hợp với mức độ rủi ro của từng ứng dụng. Những lĩnh vực có tiềm năng ứng dụng gồm nông nghiệp chính xác, giám sát hạ tầng, logistics, y tế và bản đồ số. Tuy nhiên, đại diện Hội hàng không vũ trụ Việt Nam đánh giá việc lựa chọn phân khúc cần dựa trên nhu cầu thực tế, khả năng vận hành và hiệu quả kinh tế.

Trong phiên thảo luận, bà Nguyễn Thị Hải Hằng, nguyên giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam, Phó chủ tịch Liên minh Kinh tế tầm thấp, cho rằng sự phát triển của công nghệ chỉ tạo tiền đề, còn nhu cầu thị trường mới quyết định khả năng tồn tại. "Mọi ứng dụng bền vững đều phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế thị trường, không thuần túy đi từ sự phát triển của công nghệ", bà Hằng nhấn mạnh.
Theo bà, những ứng dụng UAV trong nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nhu cầu thực tế đã xuất hiện từ trước khi kinh tế tầm thấp trở thành khái niệm được quan tâm rộng rãi. Chẳng hạn, thiết bị bay hỗ trợ gieo hạt, tưới tiêu và phun thuốc bảo vệ thực vật, qua đó giải quyết những công việc cụ thể trong sản xuất.
Phó chủ tịch Liên minh Kinh tế tầm thấp cũng dẫn số liệu hơn 3.000 drone phục vụ nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long, trên diện tích khoảng 1,5 triệu ha, như một ví dụ về thị trường đã hình thành. Theo bà, Việt Nam không nhất thiết tạo ra những thị trường hoàn toàn mới, mà có thể bắt đầu từ nhu cầu hiện hữu rồi mở rộng sang những lĩnh vực có điều kiện phù hợp. Ngoài nông nghiệp, hệ sinh thái còn có các đơn vị sản xuất linh kiện tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, startup phát triển phần mềm, AI và xây dựng giải pháp trên nền tảng phần cứng sẵn có.
Tuy nhiên, nguồn lực có hạn khiến Việt Nam không thể đồng thời phát triển mọi phân khúc. Theo bà Hằng, ưu tiên trước mắt cần tập trung vào khả năng khai thác thiết bị an toàn, tạo hiệu quả kinh tế và giá trị gia tăng, sau đó từng bước nâng cao năng lực làm chủ công nghệ.

Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Văn Thuật, Phó vụ trưởng Kinh tế số và Xã hội số - Bộ Khoa học và Công nghệ, lưu ý cần phân biệt giữa thành công trong thử nghiệm và khả năng thương mại hóa. Theo ông, một mô hình muốn mở rộng ra thị trường cần đáp ứng ba điều kiện: có khách hàng thực sự sẵn sàng trả tiền và đạt hiệu quả cao hơn phương pháp truyền thống; vận hành an toàn, ổn định trong môi trường thực tế; có khả năng nhân rộng sang địa phương khác mà không phải thiết kế lại toàn bộ công nghệ, hạ tầng và cơ chế quản lý.
Ba điều kiện này cũng đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp khi xây dựng sản phẩm. Một thiết bị bay có thể hoạt động thành công trong khu vực thử nghiệm chưa đồng nghĩa với khả năng khai thác liên tục, đáp ứng yêu cầu vận hành và duy trì hiệu quả kinh tế trên thị trường.
Cũng theo đại diện Vụ Kinh tế số và Xã hội số, Bộ Quốc phòng đang phối hợp xây dựng chương trình hành động trình Chính phủ, tập trung vào năm nhóm nhiệm vụ: hoàn thiện thể chế quản lý không phận tầm thấp theo mức độ rủi ro; thiết lập cơ chế điều phối liên ngành theo nguyên tắc mỗi ngành tiếp tục quản lý lĩnh vực phụ trách; xây dựng hạ tầng quản trị số quốc gia, trọng tâm là nền tảng UTM giám sát hoạt động bay theo thời gian thực; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; phát triển hạ tầng và đào tạo nhân lực nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, vận hành UAV.
Trong khi đó, bà Phương đánh giá, Việt Nam cần giải quyết đồng thời các thách thức về thể chế, an ninh, công nghệ, hiệu quả kinh tế và niềm tin xã hội để phát triển kinh tế tầm thấp. Hành lang pháp lý cần làm rõ cơ chế phối hợp quản lý vùng trời, cấp phép, xử lý sự cố, tiêu chuẩn kỹ thuật và trách nhiệm của các bên. Hoạt động UAV gần sân bay, khu dân cư và công trình trọng yếu cũng đòi hỏi cơ chế giám sát phù hợp nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh và an toàn khi mật độ chuyến bay tăng.
Việt Nam cũng cần giảm phụ thuộc vào công nghệ và chuỗi cung ứng nước ngoài, nâng cao năng lực thiết kế, bảo mật, bảo trì và làm chủ công nghệ lõi. Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá trên toàn bộ vòng đời UAV, từ thiết bị, nhân lực đến pin, bảo trì, bảo hiểm và kết nối. Tiếng ồn, quyền riêng tư, nguy cơ tai nạn và việc sử dụng dữ liệu sai mục đích cũng cần được kiểm soát để tạo niềm tin, thúc đẩy cộng đồng chấp nhận các ứng dụng UAV.
Đề xuất lộ trình phát triển, bà Phương cho rằng triển vọng phát triển kinh tế tầm thấp trong 10 năm tới có thể chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn 2027-2030, Việt Nam hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế phối hợp liên ngành và thiết lập các khu thử nghiệm có kiểm soát. Giai đoạn 2031-2036, trọng tâm chuyển sang phát triển hệ sinh thái liên kết nghiên cứu, sản xuất và dịch vụ trọn gói, thúc đẩy thương mại hóa và mở rộng thị trường.
"Cách tiếp cận này có thể giúp hình thành chuỗi cung ứng trong nước, tăng cơ hội thương mại hóa kết quả nghiên cứu và mở rộng thị trường cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ", bà Phương nói thêm.
AEF 2026 được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Thiskyhall Sala, TP HCM, bắt đầu những phiên bên lề từ ngày 26/10, trước khi chính thức khai mạc vào 28/10. Một trong những mục tiêu của diễn đàn là tập trung thảo luận vấn đề định hình động lực tăng trưởng mới như công nghệ đột phá, số hóa, xanh hóa, tài chính, chuỗi giá trị và các mô hình hợp tác mới. Theo Ban tổ chức, TP HCM không chỉ dừng ở vai trò điểm đến, mà hướng tới trở thành nơi các nguồn lực toàn cầu gặp nhau, được điều phối và chuyển hóa thành quyết định đầu tư. Đồng thời, đây sẽ là điểm đến của sáng kiến hợp tác quốc tế, trung tâm kết nối các nền kinh tế mới nổi và đầu mối thúc đẩy đổi mới sáng tạo khu vực.




