Bỏ qua menu, đến nội dung chính
Tin nóng

Chính phủ yêu cầu tập trung nguồn lực cho công nghệ chiến lược

Công nghệ9 tháng 10, 20260 lượt xem

Chính phủ tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ thành 6 nhóm, ưu tiên công nghệ lõi và tăng liên kết từ nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm.

Chính phủ yêu cầu tập trung nguồn lực cho công nghệ chiến lược

Chính phủ tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ thành 6 nhóm, ưu tiên công nghệ lõi và tăng liên kết từ nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ngày 8/10 ký Quyết định số 1951/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035. Đề án rà soát các chương trình quốc gia còn hiệu lực, đồng thời cập nhật chương trình mới được phê duyệt để tránh trùng lặp về mục tiêu, nội dung, sản phẩm và nguồn lực.

Hệ thống chương trình được tổ chức thành 6 nhóm: phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nghiên cứu cơ bản; trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo quốc gia; quốc gia đặc biệt; và chuyển đổi số quốc gia.

Việc phân nhóm nhằm định hướng ưu tiên, tập trung nguồn lực, tăng liên thông và điều phối ở quy mô quốc gia. Đề án không làm phát sinh loại hình chương trình, cấp quản lý trung gian, hồ sơ hoặc thủ tục hành chính mới; không thay đổi thẩm quyền xây dựng, thẩm định, phê duyệt và quản lý chương trình.

Một trọng tâm của đề án là tập trung nguồn lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược. Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt hướng đến các mục tiêu quy mô lớn, dự án trọng điểm, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ trong nước.

Các nhiệm vụ về công nghệ chiến lược gồm nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, hoàn thiện, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và điều kiện phục vụ sản xuất trong nước. Nhóm chương trình này được áp dụng cơ chế đầu tư, tài chính, quản lý đặc thù và quản trị rủi ro theo quy định pháp luật.

Đến năm 2030, đề án đặt mục tiêu hình thành ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm quốc gia và sản phẩm công nghệ chiến lược; phát triển ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, trong đó tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Giai đoạn 2031-2035, mục tiêu là thương mại hóa ở quy mô công nghiệp lũy kế ít nhất 50 sản phẩm có sức cạnh tranh quốc tế; phát triển ít nhất 30 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, trong đó tối thiểu 10 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Đề án còn đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực; 100% chương trình thuộc phạm vi đề án được theo dõi, đánh giá trên nền tảng số quốc gia.

Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc - Hà Nội. Ảnh: Giang Huy
Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc - Hà Nội. Ảnh: Giang Huy

Đưa doanh nghiệp vào quá trình thương mại hóa

Doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nhu cầu thị trường và thực tiễn phát triển được dùng để định hướng hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ. Viện nghiên cứu và trường đại học nòng cốt trong tạo tri thức mới, phát triển công nghệ và đào tạo nhân lực.

Đề án khuyến khích doanh nghiệp đề xuất nhiệm vụ, đặt hàng, tài trợ hoặc đồng tài trợ, chủ trì hay phối hợp thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nhà nước sẽ hỗ trợ xuyên suốt quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, từ hoàn thiện công nghệ, đánh giá mức độ sẵn sàng, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến chuyển giao, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.

Đến năm 2030, tối thiểu 50% nhiệm vụ đặt hàng phải do doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện, với vốn đối ứng đạt ít nhất 40% tổng kinh phí của các nhiệm vụ này. Đến năm 2035, hai tỷ lệ tương ứng là tối thiểu 60% và 50%.

Đổi mới quản lý, tài chính và đánh giá

Đề án chuyển quản lý chương trình sang dựa trên mục tiêu, kết quả, hiệu quả và tác động; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Nguồn lực được bố trí tập trung, ưu tiên các bài toán lớn, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và kết quả có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.

Cơ chế khoán chi, hậu kiểm và các cơ chế tài chính khác được áp dụng phù hợp với đặc thù hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nguồn lực thực hiện gồm ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp, nguồn xã hội hóa, hợp tác quốc tế và các nguồn hợp pháp khác; đề án khuyến khích đồng đầu tư, đồng tài trợ và chia sẻ rủi ro.

Các chương trình được đánh giá theo khung đầu vào, đầu ra, kết quả và tác động. Kết quả đánh giá là căn cứ điều chỉnh mục tiêu, nội dung, cơ chế thực hiện và phân bổ nguồn lực; xem xét tiếp tục, điều chỉnh, hợp nhất hoặc kết thúc chương trình theo thẩm quyền.

Đề án có hiệu lực từ ngày ký, 8/10/2026.

Chia sẻ:

Bài viết liên quan