Tổ chức nào quy tụ nhiều cao thủ kung fu Trung Quốc nhất?
Một võ hội hùng hậu với cao thủ từ khắp "đại giang Nam Bắc" làng kung fu Trung Hoa. Hình mẫu tưởng chừng trong phim kiếm hiệp ấy, hóa ra từng thực sự tồn tại trong lịch sử.

Một võ hội hùng hậu với cao thủ từ khắp "đại giang Nam Bắc" làng kung fu Trung Hoa. Hình mẫu tưởng chừng trong phim kiếm hiệp ấy, hóa ra từng thực sự tồn tại trong lịch sử.

Đó là Trung ương Quốc thuật quán, một võ hội từng ra đời ở Nam Kinh đầu thế kỷ 20, quy tụ rất đông các võ sư lừng lẫy làng kung fu đại lục, từ những danh môn đại phái mà người hâm mộ võ thuật phương Đông đều biết đến.
Làng kung fu khắp "đại giang Nam Bắc"
Theo Nhân dân Chính hiệp báo , năm 1927, tướng thời Dân Quốc là Trương Chi Giang đề xuất lập cơ sở nghiên cứu võ thuật, khắc phục tình trạng các phái "khư khư giữ riêng" võ kỹ của môn phái nhà mình, từ đó hướng đến việc nâng cao trình độ võ thuật đại lục.
Được chính quyền ở Nam Kinh bảo trợ, Trung ương Quốc thuật nghiên cứu quán chính thức mở ngày 24-3-1928, đổi tên thành Trung ương Quốc thuật quán vào tháng 6 cùng năm.
Ý tưởng là đưa võ học từ phạm vi truyền thừa riêng lẻ vào một tổ chức cùng nghiên cứu và giảng dạy. Võ quán hướng đến bảo tồn kỹ thuật, nâng cao thể chất, đào tạo giáo viên, chỉnh lý tài liệu và phổ biến võ thuật.
Trương Chi Giang đề cao “thuật đức tịnh trọng, văn võ kiêm tu”: coi trọng cả võ nghệ lẫn đạo đức, học văn đi đôi với luyện võ. Học viên được khuyến khích tiếp thu sở trường nhiều phái, thay vì chỉ bảo vệ tuyệt kỹ của sư môn.
Bộ máy đầu tiên mang dấu ấn võ lâm: quán trưởng Trương Chi Giang, phó quán trưởng Lý Cảnh Lâm; bên dưới chia thành hai ban Thiếu Lâm và Võ Đang. Ban Thiếu Lâm tập hợp Tra quyền, Đàm thoái, Bát cực, Phách quải; ban Võ Đang gồm Thái cực, Hình ý và Bát quái.
Đó là cách phân loại của quán, không phải hai đoàn đại biểu từ chùa Thiếu Lâm và núi Võ Đang. Sự phân chia lại nuôi dưỡng thành kiến môn hộ, dẫn tới bất đồng và những cuộc tỉ thí giữa người trong quán.
Năm 1929, tổ chức được cải tổ, bỏ mô hình hai ban. Bộ máy gồm hội đồng quản trị cùng ba bộ phận giáo vụ, biên soạn và tổng vụ, phụ trách đào tạo, tài liệu và hành chính. Tư tưởng học rộng các phái được đặt vào một cơ cấu giáo dục rõ ràng hơn.
Võ sư Lý Cảnh Lâm nổi tiếng về kiếm thuật. Trong một tác phẩm của mình, võ sư lừng danh Tôn Lộc Đường kể từng trao đổi với ông nhiều ngày, đánh giá cao cả kỹ pháp lẫn lý luận. Dòng kiếm của họ Lý còn được môn sinh Hoàng Nguyên Tú ghi lại trong sách Võ Đang kiếm thuật năm 1931.

Tôn Lộc Đường được mời đứng đầu ban Võ Đang thời kỳ đầu. Tinh thông Hình ý, Bát quái và Thái cực, ông sáng lập Thái cực quyền họ Tôn, để lại nhiều sách võ học. Tuy nhiên, ông chỉ làm việc tại quán thời gian ngắn trước khi chuyển sang Quốc thuật quán tỉnh Giang Tô.
Đứng đầu ban Thiếu Lâm là Vương Tử Bình, võ sư người Hồi ở Thương Châu, nổi danh với biệt hiệu “Thiên cân vương”. Ông giỏi Tra quyền, Bát cực và binh khí, đồng thời là chuyên gia chữa chấn thương, chỉnh xương. Cao Chấn Đông, thuộc dòng Hình ý của Mã Ngọc Đường, từng phụ trách ban Võ Đang.
Đội ngũ giảng dạy còn có Mã Anh Đồ với Bát cực, Phách quải; Quách Trường Sinh với Phách quải, Thông bối và Miêu đao; Chu Quốc Phúc với Hình ý và quyền anh. Chu thuộc nhóm đạt hạng “tối ưu đẳng” ở quốc khảo năm 1928, tiêu biểu cho hướng kết hợp võ truyền thống với phương pháp đối kháng phương Tây.
Giá trị ngàn đời
Dù đặt tại Nam Kinh, bộ khung ban đầu mang dấu ấn võ miền Bắc, đặc biệt mạng lưới võ sư Hà Bắc, Thương Châu. Các tên tuổi tới quán ở những thời điểm và vai trò khác nhau, không phải tất cả cùng thường xuyên giảng dạy.
Hai kỳ quốc khảo năm 1928 và 1933 mở rộng việc tuyển chọn nhân tài. Thí sinh biểu diễn quyền, binh khí rồi tham gia đối kháng. Theo nghiên cứu trên Journal of Physical Education năm 2025, hai kỳ lần lượt thu hút 333 người từ 17 tỉnh, thành và 438 người từ 21 tỉnh, thành.
Quán mở nhiều lớp, từ đào tạo giáo viên tới thanh thiếu niên và phụ nữ. Hệ thống quốc thuật quán phát triển xuống địa phương, còn sách báo đưa kỹ thuật vốn truyền khẩu thành tài liệu có thể học, nghiên cứu và đối chiếu.
Năm 1936, những học viên như Trương Văn Quảng, Ôn Kính Minh tham gia đoàn biểu diễn võ thuật tại Olympic Berlin. Chuyến đi đánh dấu bước quảng bá kung fu trên sân khấu quốc tế; đoàn tham gia trình diễn, không thi đấu tranh huy chương.

Chiến tranh bùng nổ năm 1937 khiến quán phải di chuyển, nhiều cơ sở địa phương ngừng hoạt động. Sau chiến tranh, quán trở lại Nam Kinh năm 1946 nhưng thiếu kinh phí, cuối cùng giải thể năm 1948.
Di sản tiếp tục qua những người từng học ở đây. Trương Văn Quảng, Ôn Kính Minh, Trịnh Hoài Hiền, Hà Phúc Sinh về sau đóng góp cho giảng dạy, nghiên cứu và thi đấu võ thuật. Các dòng quyền, binh khí được chỉnh lý tại quán cũng tiếp tục lưu truyền.
Giá trị ấy còn phù hợp với làng võ hôm nay: đào tạo có hệ thống, lưu giữ tài liệu, trao đổi giữa các phái và kiểm nghiệm kỹ thuật bằng đối kháng. Quốc thuật quán để lại một bước chuyển quan trọng: từ kỹ nghệ riêng của sư môn sang tri thức có thể chia sẻ, giảng dạy và phát triển.
Đọc tiếp Về trang Chủ đề Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Tặng sao cho bài viết hay Facebook Mail Twitter / X LinkedIn Nguồn ưu tiên trên Google Ưu tiên Tuổi Trẻ trên Google Search. Xem hướng dẫn. Tặng sao




