Thứ trưởng Trần Trung Tính đề xuất 4 giải pháp phát triển kinh tế biển
Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính đề xuất nâng năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ, kết nối dữ liệu và thu hút chuyên gia quốc tế để Việt Nam mạnh về biển.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính đề xuất nâng năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ, kết nối dữ liệu và thu hút chuyên gia quốc tế để Việt Nam mạnh về biển.
Sáng 2/10, diễn đàn Biển Việt Nam 2026 do Bộ Ngoại giao chủ trì, khai mạc tại Hà Nội với chủ đề Hợp tác và hội nhập quốc tế trong xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh.
Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính đề xuất 4 hướng hợp tác quốc tế để nâng năng lực khoa học, công nghệ biển của Việt Nam. Đó là: phát triển các tổ chức nghiên cứu biển; làm chủ công nghệ tiên tiến; kết nối dữ liệu đại dương và thu hút chuyên gia quốc tế.
Theo ông Tính, biển và đại dương là không gian liên thông toàn cầu, nơi không quốc gia nào có thể đơn độc giải quyết những thách thức ngày càng phức tạp về tài nguyên, môi trường, khí hậu và phát triển bền vững. Vì vậy, hợp tác quốc tế cần trở thành trụ cột của khoa học công nghệ biển.
Hướng đầu tiên được Thứ trưởng đề xuất là nâng năng lực các tổ chức nghiên cứu biển của Việt Nam, hướng tới trình độ dẫn đầu ASEAN. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ xây dựng hành lang pháp lý, thúc đẩy liên kết giữa các viện nghiên cứu, đại học trong nước với những trung tâm nghiên cứu đại dương hàng đầu thế giới.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và làm chủ công nghệ biển tiên tiến. Các lĩnh vực được ưu tiên gồm phương tiện ngầm tự hành, viễn thám đại dương, cáp biển tốc độ cao, trung tâm dữ liệu dưới biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi và công nghệ sinh học biển.
Việt Nam dự kiến ưu tiên hợp tác với những quốc gia có thế mạnh về công nghệ biển như Nhật Bản, Đức, Italy, Mỹ, Australia, Nga.
Hướng thứ ba là xây dựng và kết nối hạ tầng dữ liệu đại dương với khu vực và thế giới. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tham gia các chương trình dữ liệu, quan trắc đại dương trong khuôn khổ Thập kỷ Khoa học đại dương vì sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc và các cơ chế hợp tác đa phương như Ủy ban Hải dương học Liên chính phủ.
Cuối cùng, Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng cơ chế đặc thù để thu hút chuyên gia, nhà khoa học quốc tế hàng đầu tham gia trực tiếp các chương trình khoa học công nghệ biển trọng điểm của Việt Nam.

Theo Thứ trưởng, ngoại giao khoa học biển sẽ là cầu nối để Việt Nam tiếp cận tri thức, công nghệ tiên tiến, tham gia sâu hơn vào mạng lưới nghiên cứu toàn cầu và đóng góp sáng kiến giải quyết các vấn đề chung về biển, đại dương.
"Khoa học giúp chúng ta hiểu biển. Công nghệ giúp chúng ta làm chủ biển. Đổi mới sáng tạo giúp chúng ta làm giàu từ biển. Chuyển đổi số giúp chúng ta quản trị biển hiệu quả hơn", ông Tính nói, cho rằng tự chủ công nghệ cũng góp phần bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển.
Chuyển từ khai thác tài nguyên sang quản trị biển hiện đại
Ông Nguyễn Duy Hưng, Phó ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng để trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam phải xây dựng nội lực biển, chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu tư sang năng suất, tri thức, công nghệ và con người.
Hợp tác quốc tế về biển, theo ông, phải mang lại kết quả cụ thể về vốn, công nghệ, tri thức, nhân lực, hạ tầng, quản trị và thị trường. Đây cũng là nguồn lực quan trọng khi nhu cầu đầu tư cho cảng biển, logistics, năng lượng, đô thị ven biển, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu rất lớn, trong khi nguồn lực trong nước có giới hạn.
Việt Nam vì vậy cần tăng kết nối với các định chế tài chính, quỹ đầu tư, nhà đầu tư chiến lược và nguồn tài chính xanh quốc tế; đồng thời thúc đẩy hợp tác về khoa học công nghệ, chuyển đổi số và xây dựng dữ liệu biển.

Ông Hưng lưu ý phát triển kinh tế biển phải đi cùng bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.
"Phát triển kinh tế không thể đánh đổi lấy môi trường, đa dạng sinh học và khả năng chống chịu của các hệ sinh thái", ông nói.
Trước đó, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh phát biểu khai mạc, cho biết Nghị quyết 20 của Trung ương đánh dấu bước chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên đơn thuần sang quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và quản lý thống nhất không gian biển quốc gia.
"Biển là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài", ông nói.

Theo Phó chủ tịch Quốc hội, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực để làm chủ tri thức, công nghệ, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, chủ quyền và an ninh quốc gia.
Ông cho rằng một Việt Nam mạnh hơn về biển cũng phải đóng góp nhiều hơn cho hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Việt Nam sẽ tiếp tục cùng các đối tác đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển bền vững ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hợp Quốc và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 gồm phiên định hướng cấp cao về chương trình hành động 2026-2030 và ba phiên chuyên đề song song. Nội dung tập trung vào huy động nguồn lực, phát triển hạ tầng và logistics biển; khoa học, công nghệ, dữ liệu và quản trị biển; hợp tác quốc tế của địa phương gắn với bảo vệ môi trường, sinh kế và giá trị cộng đồng ven biển.



