Mùa mưa dị thường ở TP HCM
Mùa mưa năm nay ở TP HCM cực đoan hơn khi mưa kỷ lục dồn vào tháng 9 và đầu tháng 10 với lượng mưa nhiều nhất 46 năm, mặc dù trước đó, thành phố trải qua những tháng ít mưa bất thường.

Mùa mưa năm nay ở TP HCM cực đoan hơn khi mưa kỷ lục dồn vào tháng 9 và đầu tháng 10 với lượng mưa nhiều nhất 46 năm, dù trước đó, thành phố trải qua những tháng ít mưa bất thường.
“Vào những năm El Nino cường độ mạnh, mưa ở TP HCM thường thiếu hụt so với trung bình nhiều năm. Nhưng năm nay, lượng mưa tháng 9 vượt 48% so với trung bình, đó là sự bất thường”, ông Lê Đình Quyết, Trưởng phòng Dự báo Đài Khí tượng thủy văn Nam Bộ, nhận định.
Để đánh giá mức độ dị thường của đợt mưa này tại TP HCM, VnExpress phân tích dữ liệu lượng mưa trung bình và lượng mưa theo ngày tại trạm Tân Sơn Hòa từ năm 1980 đến nay.
Mưa hiếm gặp tại TP HCM
Trong tháng 9, hầu hết trạm ở TP HCM đều ghi nhận lượng mưa cao vượt trung bình cùng kỳ với mức độ khác nhau: trạm Nhà Bè mưa nhiều hơn 141%, Thủ Dầu Một (Bình Dương cũ) vượt 128%, trong khi trạm Vũng Tàu và Côn Đảo chỉ cao hơn 1-3%.
Đài Khí tượng Thủy văn Nam Bộ nhận định tổng lượng mưa tháng 9 ở TP HCM phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm. Lượng mưa tháng lớn nhất diễn ra tại Bình Chánh (640,8 mm).
Riêng tại trạm Tân Sơn Hòa, tổng lượng mưa trong các ngày 1/9-6/10 đã đạt mức 680,5 mm, cao nhất cùng kỳ trong vòng 46 năm qua. Kỷ lục trước đó được xác lập vào năm 2012 với tổng lượng mưa 650,5 mm.
Dù đối diện lượng mưa cao kỷ lục, số ngày có mưa tại TP HCM trong cả giai đoạn vẫn thấp hơn so với nhiều năm và dưới mức trung bình cùng kỳ.
Phân tích dữ liệu lượng mưa cho thấy, tháng 9 và đầu tháng 10 năm nay, TP HCM hứng chịu những trận mưa lớn hơn so với đầu mùa, và dồn cục bộ trong thời gian ngắn hơn thay vì trải đều cả tháng. Lượng mưa trung bình ngày (chỉ tính trong các ngày có mưa) là 27,2 mm, cao chưa từng có.
“Một số trận mưa rất to, mang tính cực đoan, chỉ trong vài giờ nhưng lượng mưa đến hàng trăm mm”, ông Lê Đình Quyết nhận định về chuỗi ngày mưa vừa qua.
Đặc biệt, ngày 21-22/9, lượng mưa trong 24 giờ đo được tại trạm Nhà Bè là 187,5 mm. Theo ông Quyết, đây là lượng mưa ngày rất hiếm xảy ra tại TP HCM trong nhiều năm qua.
GS.TS Phan Văn Tân, Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), nhận định các đợt mưa lớn tại TP HCM như vừa qua là biểu hiện của các biến động thời tiết. Mưa sẽ phụ thuộc vào hoạt động của các hệ thống như nhiễu động gió mùa, áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh…
“Các hệ thống này có thể cộng hưởng với nhau tạo ra hiện tượng như giông nhiệt, cùng các đợt mưa lớn. Trong khi đó, các dao động khí hậu như La Nina hay El Nino sẽ tác động đến xu hướng mưa trung bình trong thời gian dài, theo mùa hoặc theo năm”, ông Tân giải thích.
So sánh với các trạng thái ENSO (chu kỳ nóng - lạnh của Thái Bình Dương) trong quá khứ, dữ liệu cho thấy có sự tương quan về lượng mưa trung bình trong cả mùa với trạng thái khí hậu các năm tại TP HCM.
Vào các năm El Nino (biển nóng lên), Việt Nam nắng hạn, mùa mưa ở TP HCM thường kết thúc sớm, các đợt mưa lớn ít xuất hiện từ đầu tháng 11 trở đi. Tổng lượng mưa cả mùa cũng thiếu hụt so với trung bình, trừ ngoại lệ năm 2023.
Trong khi đó, những năm chuyển pha sang La Nina (biển lạnh đi), các trận mưa lớn có thể duy trì đến giữa tháng 11. Mùa mưa thường kết thúc muộn hơn với tổng lượng cao hơn so với trung bình.
Tuy nhiên trong 10 năm trở lại đây, TP HCM thường hứng lượng mưa cao hơn trung bình trong mùa mưa, bất kể ENSO hoạt động ở pha nào. Điều này cho thấy thời tiết ngày càng dị thường, không còn đi theo các quy luật chung của trạng thái khí hậu.
Theo ông Lê Đình Quyết, tháng 9 và tháng 10 năm nay, ENSO đang trong pha El Nino mạnh, thông thường khu vực sẽ ít mưa. Nhưng thời gian qua, tổng lượng mưa vượt so với cùng kỳ trung bình nhiều năm.
“Số liệu thống kê cho thấy nhiều năm gần đây, đặc biệt 3 năm qua, mưa có xu hướng gia tăng, xuất hiện thường xuyên hơn những đợt mưa kéo dài vài ngày”, đại diện Đài Khí tượng Thủy văn Nam Bộ cho biết.
Thành phố càng nóng, mưa càng cực đoan
Theo GS Phan Văn Tân, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các thành phố hay đô thị lớn thường xảy ra hiện tượng mưa dồn. Mưa xuất hiện trong khoảng thời gian rất ngắn, với cường suất (lượng mưa tại một khu vực) lớn, vượt quá công suất thiết kế của hạ tầng thoát nước.
Nhiều đô thị trên thế giới cũng đối mặt tình trạng tương tự TP HCM. Nhưng thành phố này đang ghi nhận xu hướng mưa cực đoan ở mức nghiêm trọng hơn so với toàn cầu.
Cụ thể, năm 2024, các nhà khoa học đã phân tích dữ liệu lượng mưa trong giai đoạn 2001-2020 của 1.056 đô thị và vùng xung quanh. Nghiên cứu chỉ ra TP HCM xếp thứ 8 về mức độ chênh lệch lượng mưa giữa các khu vực.
Tại Việt Nam, các đô thị như Hà Nội, Hải Phòng, Vinh (Nghệ An) cũng ghi nhận hiện tượng này với mức chênh lệch thấp hơn. Riêng TP Đà Nẵng, lượng mưa ở vùng trung tâm đô thị thấp hơn xung quanh 100 mm mỗi năm. Các tác giả lý giải đô thị có địa hình được bao quanh bởi đồi núi giảm nguy cơ mưa lớn dồn ở trung tâm.
Đáng lưu ý, trong nhóm 100 đô thị có diện tích lớn nhất thế giới, TP HCM dẫn đầu về mức độ chênh lệch giữa lượng mưa ở trung tâm đô thị với các vùng lân cận, tương đương 274 mm mỗi năm.
Tham gia nghiên cứu trên, GS Dev Niyogi, Trường Khoa học địa chất (Đại học Texas tại Austin), đồng Chủ nhiệm UNESCO về AI, nước và thành phố, cho biết lượng mưa ở đô thị có liên quan đến hiện tượng đảo nhiệt.
Ông giải thích so với vùng nông thôn, các thành phố thường nóng hơn 3-5 độ C do tồn tại các điều kiện hấp thụ bức xạ mặt trời, bao gồm khí thải giao thông, nhà bê tông, đường sá và hạ tầng... Nhưng nhiệt độ tăng cao không chỉ làm nóng bề mặt, nó còn làm thay đổi lượng hơi ẩm khí quyển có thể giữ lại.
“Ở các đô thị, độ ẩm và các cú sốc nhiệt đều cao hơn. Khi không khí ấm hơn, nó sẽ trở nên nhẹ hơn và bốc lên, rồi hạ nhiệt và ngưng tụ, từ đó hình thành mây”, GS Niyogi lý giải cơ chế nhiệt độ tác động tới lượng mưa.
Các đám mây tiếp tục nhận thêm nhiệt và hơi ẩm có thể trở nên lớn hơn. Chưa kể, chất ô nhiễm đi vào đám mây cũng có thể đóng vai trò như “hạt nhân ngưng tụ”, khiến hơi ẩm ngưng kết nhanh hơn và gây mưa nhiều hơn.
Theo chuyên gia, trong nhiều trường hợp, mây có xu hướng di chuyển ra khỏi thành phố và gây mưa lớn ở các khu vực phía cuối hướng gió. Nhưng ở một số điều kiện khác, khi mây bao phủ trên diện rộng và vùng lân cận cũng nóng, mây sẽ không di chuyển nhiều mà trực tiếp gây mưa ở vùng trung tâm.
“Khi các thành phố tiếp tục mở rộng mức độ đô thị hóa, mưa cực đoan có thể gia tăng”, ông Niyogi cho biết
Trước thực trạng này, chuyên gia nhấn mạnh việc quản lý nhiệt độ đô thị và hạ tầng xanh không chỉ để kiểm soát đảo nhiệt, mà còn nhằm ứng phó với những trận mưa lớn ngày càng cực đoan.
Đảo ẩm đô thị diễn ra thế nào?
Trước bối cảnh mưa lớn ngày càng cực đoan trong khi TP HCM đang phát triển nhanh, GS Niyogi cho biết thành phố cần một loạt can thiệp để giảm thiểu tác động, bao gồm: quản lý hiện tượng đảo nhiệt, đánh giá nguy cơ xảy ra mưa cực đoan ở cấp địa phương, xây dựng và duy trì hệ thống giảm thiểu ngập lụt và cảnh báo mưa, sẵn sàng các kế hoạch thích ứng.
“Thành phố không cần bất lực và đứng nhìn những hiện tượng cực đoan này diễn ra, có nhiều lựa chọn giúp giảm các tác động tiêu cực”, ông Niyogi nhấn mạnh.
Theo kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật năm 2025 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố hôm 9/10, vào cuối thế kỷ XXI, số ngày mưa lớn sẽ tăng mạnh, đặc biệt tại Nam Bộ. Ở một số nơi, số ngày mưa trên 100 mm có thể tăng 80-100%.
Riêng tại TP HCM, các kịch bản đều cho thấy tổng lượng mưa năm ít thay đổi từ nay đến cuối thế kỷ. Tuy nhiên, mưa có xu hướng cực đoan hơn, gia tăng số lượng các ngày mưa lớn.
Ở kịch bản phát thải thấp, lượng mưa ngày lớn nhất tại TP HCM có thể tăng 9% vào giữa thế kỷ, rồi giảm xuống mức 6% vào cuối thế kỷ. Cũng vào giữa thế kỷ, khu vực có số ngày mưa trên 50 mm tăng 27%, còn số ngày mưa trên 100 mm tăng đến 83% so với thời kỳ cơ sở (1995-2014).
GS Phan Văn Tân nhận định trong bối cảnh biến đổi khí hậu, rủi ro liên quan đến mưa lớn gây ngập lụt ở các thành phố có xu hướng gia tăng, mực nước trong tương lai có thể lớn hơn rất nhiều so với hiện nay.
Vì vậy, thế giới và cả Việt Nam đang cùng quan tâm giải bài toán khí hậu đô thị, trong đó có cải thiện các mô hình dự báo dài hạn. Nhưng việc này vẫn là thách thức do bản chất biến động của các hình thái thời tiết.
“Trước tác động ngày càng cực đoan của biến đổi khí hậu, các quy hoạch ứng phó cần mang tính thích ứng và theo tư duy quản lý rủi ro, để kịp phản ứng trước những bất thường”, chuyên gia nhận định.
Đồ họa: Khánh Hoàng - Tâm Thảo - Thanh Hạ




