Điều trị ca bệnh khó: Thiết bị hiện đại phải đi cùng bác sĩ giỏi
Để ứng dụng hiệu quả công nghệ hiện đại trong điều trị ca bệnh khó, bác sĩ cần có chuyên môn sâu và khả năng làm chủ công nghệ.

Để ứng dụng hiệu quả công nghệ hiện đại trong điều trị ca bệnh khó, bác sĩ cần có chuyên môn sâu và khả năng làm chủ công nghệ. Ngày 9.10, tại Hội thảo Thành tựu y học Việt : Ứng dụng khoa học công nghệ vào điều trị các ca bệnh khó do Báo Thanh Niên tổ chức, GS-TS-BS Nguyễn Đức Trọng, Hiệu trưởng Trường Khoa học sức khỏe (thuộc Trường đại học Nguyễn Tất Thành) chia sẻ về yêu cầu đào tạo nhân lực y tế trong thời đại công nghệ số.
Thiết bị hiện đại phải đi cùng bác sĩ giỏi
Theo GS Trọng, trí tuệ nhân tạo (AI), robot cùng các kỹ thuật hiện đại đang được ứng dụng tại bệnh viện để hỗ trợ chẩn đoán, phát hiện bệnh sớm và điều trị. Nhiều nhà sản xuất đã tích hợp thuật toán AI, phần mềm phân tích ngay trong thiết bị y tế.

Công nghệ số giúp bác sĩ quan sát rõ tổn thương, đồng thời hỗ trợ phân tích, đánh giá tổng hợp thông tin của người bệnh. Đây là cơ sở để tiến tới cá thể hóa điều trị, lựa chọn hướng xử trí phù hợp với từng bệnh nhân. Những thông tin do thiết bị cung cấp có thể hỗ trợ bác sĩ đưa ra quyết định chẩn đoán nhanh chóng, chính xác hơn.
Tuy nhiên, ông Trọng nhấn mạnh, hiệu quả ứng dụng công nghệ phụ thuộc vào năng lực của người sử dụng, đặc biệt khi chẩn đoán và điều trị ca bệnh khó .
“Nếu như có trang thiết bị tốt, hiện đại nhưng không có con người giỏi, không có khả năng chuyên sâu và nắm vững, sử dụng công nghệ hiện đại thì cũng không thể thành công trong việc chẩn đoán sớm, cũng như điều trị các ca bệnh khó”, ông Trọng cho hay.
Bên cạnh đó, ông Trọng cho biết, các kỹ thuật cận lâm sàng cung cấp lượng dữ liệu rất lớn về sinh hóa, huyết học, gien, tế bào… Nếu thiếu trình độ chuyên môn và khả năng kiểm soát dữ liệu, bác sĩ khó khai thác hết thông tin thu được từ công nghệ hiện đại. Để khai thác giá trị của những dữ liệu này, người thầy thuốc phải có đủ trình độ chuyên môn và khả năng kiểm soát, xử lý thông tin.
Gắn đào tạo y khoa với thực hành lâm sàng
Ông Trọng cho biết, Trường Khoa học sức khỏe thực hiện phương châm “thực học, thực hành, thực danh và thực nghiệp”. Sinh viên tốt nghiệp từ trường đã tham gia hoạt động chuyên môn tại nhiều trường, viện nghiên cứu và bệnh viện ở TP.HCM cùng các tỉnh lân cận.

Theo ông, để sinh viên làm chủ kỹ thuật cao, chương trình đào tạo cần kết hợp chặt chẽ lý thuyết tại giảng đường với thực hành lâm sàng tại bệnh viện, với sự hướng dẫn của các bác sĩ có năng lực và tay nghề tốt. Các đơn vị cần phối hợp xây dựng quy trình đào tạo, thực hành gắn với khám, phát hiện bệnh sớm và điều trị .
Ông Trọng lưu ý, người bác sĩ muốn vững tay nghề phải được rèn luyện qua thực hành lâm sàng nhiều lần. Nhà trường và bệnh viện hợp tác chặt chẽ hơn, cùng xây dựng tiêu chí, quy trình và bộ tiêu chuẩn đánh giá từ dữ liệu đầu vào phục vụ chẩn đoán, điều trị đến các kết luận, định hướng điều trị cuối cùng của bác sĩ.
Ở khâu đầu ra, cần kiểm soát chất lượng quyết định lâm sàng và định hướng điều trị của bác sĩ. Việc gắn kết đào tạo với thực hành nhằm giúp người học vừa nắm chắc lý thuyết, vừa có năng lực vận dụng vào công việc.
Cùng với đó, xu hướng chú trọng dự phòng chủ động đặt ra yêu cầu cập nhật chương trình đào tạo. Đề cập định hướng chuyển từ điều trị sang dự phòng chủ động, ông Trọng cho rằng nội dung này cần được lồng ghép trong chương trình đào tạo, gắn lý thuyết tại trường với thực hành tại bệnh viện.
Phát biểu tại hội thảo, TS-BS Huỳnh Minh Chín, Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM cho biết, các bệnh viện không thể hoạt động riêng lẻ mà cần hình thành hệ sinh thái kết nối giữa bệnh viện, trường đại học, viện nghiên cứu, nhà khoa học và doanh nghiệp công nghệ, dược phẩm.
Sự kết nối nhằm đưa thành tựu khoa học từ phòng nghiên cứu đến bệnh viện, từ bệnh viện đến người bệnh. Đồng thời, chuyển những sáng kiến trong thực tiễn thành sản phẩm, giải pháp có thể chuyển giao và nhân rộng để phục vụ cộng đồng.




